Tình Trạng Sản Xuất Chè Thái Nguyên Theo Tiêu Chuẩn VietGap Hiện Nay

31/03/2014 09:48 | 5172 |
0 Đánh giá
Tình trạng sản xuất chè thái nguyên theo tiêu chuẩn VietGap hiện nay đang được báo động bởi không được quản lý chặt chẽ, thực hiện không nghiêm túc làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm chè thái nguyên trên địa bàn tỉnh.

Chè Thái Nguyên đã được sản xuất theo mô hình VietGap được vài năm nay tuy nhiên việc quản lý quy trình chăm sóc chè thái nguyên theo tiêu chuẩn VietGap thì chưa được sát sao, chặt chẽ, mô hình này như được triển khai xong rồi bỏ đấy, không nghiêm túc thực hiện sẽ dẫn tới tình trạng trì trệ hoặc không triệt để, áp dụng mô hình này sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm chè thái nguyên.

Thái Nguyên là vùng chè thái nguyên trọng điểm của cả nước, với diện tích chè hơn 18.500ha, trong đó có gần 17.000ha chè kinh doanh, năng suất đạt 109 tạ/ha, sản lượng đạt gần 185 nghìn tấn. Về cơ cấu giống, tổng diện tích chè cành trong toàn tỉnh là 7.482ha (chiếm 40,2%), trong đó giống chè LDP1 là 4.681ha; giống chè nhập nội là 1.841ha; giống chè TRI 777 là 878ha. Xác định chè là cây trồng mũi nhọn, những năm qua, tỉnh ta đã triển khai nhiều biện pháp để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm chè, trong đó có việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP). Từ năm 2009, mô hình đầu tiên sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP đã được thực hiện ở xã Hòa Bình (Đồng Hỷ), sau đó tiếp tục được triển khai tại nhiều địa phương. Hiện nay, toàn tỉnh có 15 mô hình chè VietGAP ở các huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Định Hóa, Võ Nhai, Phổ Yên, Phú Lương và T.P Thái Nguyên, với tổng diện tích khoảng 200ha. Với mục đích đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn cho người sản xuất cũng như người tiêu dùng và môi trường sống, có thể khẳng định việc nhân rộng các mô hình sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP là hướng đi đúng. Tuy nhiên hiện nay, việc thực hiện những mô hình này còn tồn tại nhiều khó khăn cần tháo gỡ.

Tình trạng sản xuất chè thái nguyên theo tiêu chuẩn VietGap còn nhiều bất cập

Tình trạng sản xuất chè thái nguyên theo tiêu chuẩn VietGap còn nhiều bất cập

 

Để tìm hiểu thực tế, chúng tôi đã đến Đại Từ, huyện có diện tích chè lớn nhất tỉnh. Trên địa bàn huyện đang có 4 mô hình chè VietGAP với tổng diện tích hơn 50ha, trong đó có 3 mô hình sẽ phải nộp kinh phí để cấp lại giấy chứng nhận trong khoảng 2 tháng nữa. Tuy nhiên hiện nay, chuyện vận động các hộ dân trong tổ hợp tác chè đóng góp tiền để thực hiện việc này là điều không dễ dàng. Ông Nguyễn Văn Định, Tổ trưởng Tổ hợp tác chè ở xóm 11, xã Tân Linh chia sẻ: “Vừa qua, khi tôi thông báo tiếp tục gia hạn giấy chứng nhận, hơn 10 hộ trong tổ đã đề nghị xin rút, không làm chè VietGAP nữa”. Trực tiếp tìm hiểu tại các hộ này, chúng tôi nhận được nhiều ý kiến khác nhau, ngoài việc giá chè VietGAP không cao hơn chè bình thường thì nhiều hộ cũng cảm thấy mệt mỏi vì quy trình thực hiện gắt gao, phức tạp. Anh Trần Duy Hạnh, một người dân xin rút khỏi Tổ hợp tác chè cho biết: Sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP khó nhất là phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định, việc dùng phân vi sinh thì quy trình phức tạp. Thế nhưng khi tiêu thụ, nhiều tư thương chê chè xấu “mã”, vị nhạt nên trả giá sản phẩm thấp hơn từ 15-20 nghìn đồng/kg so với chè thường.

 

Cũng giống như tại xã Tân Linh, các tổ hợp tác chè VietGAP ở xóm Vân Long, xã Hùng Sơn và ở xóm Lũng 1, xã Phú Lạc (Đại Từ) cũng đã đến thời điểm nộp phí gia hạn giấy chứng nhận. Nhưng sau nhiều cuộc họp, các thành viên trong cả 2 tổ vẫn không đồng ý đóng tiền để duy trì mô hình. Ông Bàng Văn Chi, Tổ phó Tổ hợp tác chè VietGAP ở xóm Vân Long (Hùng Sơn) cho hay: Quả thật, giá sản phẩm chè của các gia đình trong Tổ hợp tác không cao hơn so với giá chè bình thường, việc tiêu thụ thì vẫn chỉ thông qua tư thương, các tổ viên chưa thấy được lợi ích rõ ràng trong khi số tiền phải đóng góp là khá lớn nên rất khó vận động được bà con...

 

Tại huyện Phú Lương, chúng tôi nhận thấy tình trạng trên cũng xảy ra ở xóm Thác Dài, xã Tức Tranh. Chị Cao Thị Ninh, Tổ phó Tổ chè VietGAP xóm Thác Dài cho biết: Hiện, các hộ trong Tổ vẫn sản xuất theo kiểu manh mún, có khách đặt hàng thì bán, không có thì lại bán cho tư thương nên nhiều hộ không thiết tha với mô hình chè VietGAP nữa. Nếu thời điểm này có khách đặt mua hàng thì Tổ chè VietGAP của xóm sẽ không đáp ứng được bởi một số hộ thành viên gần như không ghi chép nhật ký sản xuất nữa, do đó không chứng minh được là họ đã sản xuất theo đúng quy trình. Như vậy, đương nhiên thị trường tiêu thụ chè VietGAP sẽ bị đánh mất do chính những người sản xuất chè theo chuẩn này...

 

Tìm hiểu thêm tại các huyện khác, chúng tôi đều nhận thấy tình trạng chung là người dân chưa mặn mà với mô hình chè VietGAP. Theo thông tin của Sở Nông nghiệp - PTNT, từ năm 2009 đến nay, toàn tỉnh có 4 mô hình chè VietGAP ở các xã: Hòa Bình (Đồng Hỷ), Trung Hội (Định Hóa), xóm Hồng Thái 1, Hồng Thái 2, xã Tân Cương (T.P Thái Nguyên) mà những hộ dân tham gia đã không nộp tiền gia hạn giấy chứng nhận, do đó khi hết vốn hỗ trợ của Nhà nước là mô hình hết hiệu lực.

 

Ngoài việc người dân không muốn tiếp tục nộp tiền để gia hạn giấy chứng nhận thì tại các mô hình chè VietGAP còn tồn tại một số vấn đề khó khăn trong khâu quản lý. Nguyên nhân là do các mô hình chè VietGAP trên địa bàn tỉnh đều có diện tích nhỏ, trong khi số lượng hộ dân tham gia đông, do vậy người quản lý tổ hợp tác (là trưởng xóm) thường khó kiểm soát hết quy trình sản xuất chè theo tiêu chuẩn này của từng hộ. Ngoài ra, mỗi gia đình lại có một phương pháp chăm sóc, chế biến chè truyền thống riêng nên việc đảm bảo tuân thủ quy trình nhiều khi khó thực hiện.

 

Quy trình sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP đòi hỏi các hộ dân phải ghi chép nhật ký sản xuất (sổ nông hộ) thật chi tiết. Đây là cơ sở để chứng minh người dân thực hiện đúng quy trình, sản phẩm chè đảm bảo chất lượng. Tuy nhiên, từ trước đến nay người dân lại chưa có thói quen ghi chép, hạch toán nên sổ sách thường thiếu thông tin và không chính xác. Anh Trần Như Sơn, cán bộ Ban Quản lý Đề án phát triển chè (Sở Nông nghiệp - PTNT) cho biết: Qua kiểm tra, chúng tôi nhận thấy nhiều hộ dân không ghi chép sổ nông hộ hoặc ghi chép thông tin không đầy đủ, do đó khó truy nguyên được nguồn gốc và kiểm soát chất lượng sản phẩm chè…

 

Thêm một vấn đề nữa là các mô hình sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP cũng đang thiếu “bà đỡ” cho sản phẩm sau khi được công nhận. Do đó các tổ hợp tác chè vẫn “loay hoay” trong việc đăng ký nhãn hiệu theo Luật Sở hữu trí tuệ và chưa có định hướng tiêu thụ sản phẩm rõ ràng. Cũng vì lý do đó mà sản phẩm chè VietGAP chưa có giá cao và “chỗ đứng” trên thị trường.

 

Có thể khẳng định, việc phát triển các mô hình sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP là chủ trương đúng đắn của Nhà nước và của tỉnh, đã, đang và sẽ đem lại những lợi ích thiết thực về nhiều mặt. Đây cũng là một trong những yêu cầu bức thiết đặt ra hiện nay đối với các hộ dân và làng nghề chè. Tuy nhiên, từ thực tế cho thấy quá trình này đang còn gặp nhiều khó khăn, chưa thực sự phát huy được hiệu quả. Và, để từng bước tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc đó thì cần có sự vào cuộc tích cực của các ngành, cơ quan, tổ chức liên quan cũng như của chính các hộ dân làm chè.

 

Chủ trương nhân rộng mô hình sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP, hướng tới nền sản xuất an toàn là hoàn toàn đúng đắn. Do đó, yêu cầu bức thiết hiện nay là phải thay đổi tư duy của người trồng chè, người tiêu dùng để tạo điều kiện phát triển các mô hình này. Và để thực hiện được điều đó, rất cần sự vào cuộc của nhiều tổ chức, đơn vị, cá nhân.

 

Người trồng chè nên có cách nhìn mới chè Tân Cương

 

Như chúng tôi đã phản ánh trong bài viết trước, thực trạng người dân không mặn mà với mô hình chè VietGAP đang diễn ra ở nhiều tổ hợp tác trên địa bàn tỉnh. Nguyên nhân chủ yếu là do giá chè sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP không cao hơn giá chè thông thường, người sản xuất và tiêu dùng chưa có cái nhìn đúng đắn về sản phẩm chè sạch và việc tổ chức, quản lý quy trình chất lượng tại các tổ sản xuất còn nhiều khó khăn. Để tháo gỡ vấn đề này, cần thay đổi tư duy của người trồng chè, thói quen của người tiêu dùng, củng cố phương pháp quản lý và tạo điều kiện về tiêu thụ cho sản phẩm chè VietGAP.

 

Tìm hiểu tại nhiều hộ dân tham gia mô hình sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP, chúng tôi đã thấy nhiều tín hiệu khả quan về mức độ quan tâm của khách hàng đối với sản phẩm chè sạch. Ông Bùi Khắc Tư, tổ viên tổ hợp tác chè VietGAP ở xóm 11, xã Tân Linh cho biết: “Nhiều khách hàng đã tin tưởng hơn khi sản phẩm chè của gia đình tôi đạt chứng nhận VietGAP. Tuy họ chưa trả giá cao hơn nhưng các khách hàng này đã ưu tiên sử dụng sản phẩm của gia đình”. Điều đó đã chứng minh sản phẩm chè VietGAP đang đi dần vào thói quen của người tiêu dùng và người trồng chè đã thuận lợi hơn khi bán hàng. Mô hình chè VietGAP mới triển khai mấy năm gần đây, do đó, người trồng chè nên kiên nhẫn, quyết tâm theo đuổi để sản phẩm tạo được thương hiệu, khẳng định chất lượng, khi đó, giá trị sản phẩm chè VietGAP sẽ từng bước được nâng lên.

 

Điểm khó khăn lớn nhất hiện nay là người trồng chè không tự nguyện đóng tiền gia hạn giấy chứng nhận VietGAP. Theo tìm hiểu của chúng tôi thì nguyên nhân không phải do số tiền quá lớn. Có thể làm một phép tính, tiền gia hạn giấy chứng nhận là 10 triệu đồng/2 năm, với một mô hình vietGAP có diện tích 18ha, sản lượng chè búp khô trong 2 năm sẽ đạt khoảng 90 tấn, nghĩa là muốn gia hạn giấy chứng nhận, người dân chỉ mất thêm 111 đồng/kg. Ngoài ra, nếu chia số tiền 10 triệu đồng cho các tổ viên trong tổ hợp tác, trung bình mỗi tổ từ 15 đến 30 hộ thì mỗi hộ cũng chỉ phải bỏ ra 300 đến hơn 600 nghìn đồng/2 năm. Theo ông Vũ Ngọc Chiến, Tổ Trưởng Tổ sản xuất chè VietGap ở xóm Làng Chủng, xã Trung Hội (Định Hóa) (Tổ duy nhất người dân đóng góp kinh phí để gia hạn giấy chứng nhận hiện nay): Nguyên nhân chủ yếu của việc người dân không nộp tiền là tâm lý ỷ lại, trông chờ nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước và chưa tin tưởng vào sự thành công của mô hình. Nhưng theo tôi, sử dụng sản phẩm sạch là xu hướng tất yếu của người dân nên trong tương lai sản phẩm chè VietGAP chắc chắn sẽ có giá cao hơn và được đông đảo người tiêu dùng lựa chọn.

 

Cần sự quan tâm

 

Theo phản ánh của nhiều người dân thì mối liên hệ của tổ hợp tác chè VietGAP với cơ quan chức năng chủ yếu thông qua các cán bộ dự án của Sở Nông nghiệp và PTNT, vai trò của chính quyền địa phương với các mô hình là rất mờ nhạt. Trong khi đó, quá trình sản xuất, tiêu thụ phát sinh nhiều vấn đề cần thêm sự hỗ trợ của chính quyền cơ sở và các ban, ngành khác. Đơn cử như việc tổ hợp tác có nhiều hộ dân tham gia, tâm lý không thống nhất, một số tổ viên không áp dụng đúng quy trình, ghi chép sổ sách không đầy đủ thì một phần lỗi là do chính quyền địa phương chưa tuyên truyền hiệu quả. Các đoàn thể như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ… chưa nắm bắt được tâm lý để thực hiện vai trò định hướng, hỗ trợ người dân phát triển sản xuất.

 

Thực tế cho thấy, cùng với công tác tuyên truyền, các địa phương cũng cần quy hoạch sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo vùng sản xuất tập trung và hoàn thiện cơ sở hạ tầng như giao thông, thủy lợi, trạm bơm, hệ thống điện. Các cơ quan chức năng cần tăng cường thanh, kiểm tra, xử lý những cơ sở sản xuất, kinh doanh chè không an toàn, hướng người tiêu dùng đến các sản phẩm đạt tiêu chuẩn. Một vấn đề đáng quan tâm nữa là việc thiếu “bà đỡ” cho các sản phẩm chè VietGAP, gây nên tình trạng người trồng chè không thể gia tăng giá trị sản phẩm, tạo sự khác biệt với chè thông thường. Theo một số nhà chuyên môn, để tháo gỡ vấn đề này, ngoài ngành nông nghiệp, cần thêm sự vào cuộc của nhiều ngành chức năng trong việc tư vấn, hỗ trợ người dân làm mẫu mã, đăng ký nhãn hiệu tập thể, quảng bá thương hiệu sản phẩm, tạo lợi thế cạnh tranh với các sản phẩm chè đại trà. Tỉnh ta cũng cần xem xét thành lập đơn vị độc lập chuyên giúp đỡ người dân lĩnh vực này. Đồng thời, có các phương án bứt phá về tiêu thụ, giúp người trồng chè vượt qua khó khăn trong thời điểm hiện nay.

 

Cuối cùng, yếu tố quyết định cho sự thành công của các mô hình chè VietGAP vẫn là ở người tiêu dùng. Thông qua bài viết này, một lần nữa chúng tôi khẳng định chè VietGAP được sản xuất theo quy trình khắt khe và được kiểm định chất lượng đảm bảo an toàn, xứng đáng để người tiêu dùng lựa chọn và trả giá cao hơn các sản phẩm đại trà. Do đó, mỗi cá nhân nên là một người tiêu dùng thông thái, lựa chọn sản phẩm vì sức khỏe bản thân và gia đình. Đây chính là một vấn đề hết sức quan trọng mà chúng ta không thể đo đếm bằng lợi ích kinh tế trước mắt.

 

Theo :Chè Tân Cương Thái Nguyên

Thông tin tư vấn:

CÔNG TY TNHH LỘC TÂN CƯƠNG
Mã Số Thuế: 0312393412
Nhà Máy SX : Xóm Nam Hưng, Xã Tân Cương, TP Thái Nguyên.

Tại Hà Nội:
Cửa hàng 1: 189 Giáp Nhất, Thượng Đình, Thanh Xuân, Hà Nội
(Cách ngã tư sở 500m)
(Giờ mở cửa: 8h - 21h, từ thứ 2 đến chủ nhật, ngày lễ làm bình thường)

Tại TP.HCM:
Cửa hàng 2 : Số 589 Hoàng Văn Thụ , Phường 4, Q. Tân Bình, TP HCM
(Đối diện Trung tâm triển lãm Tân Bình)
(Giờ mở cửa: 8h - 21h, từ thứ 2 đến chủ nhật, ngày lễ làm bình thường)

Cửa Hàng 3 : 52A Thanh Đa, phường 27, quận Bình Thạnh, Tp.HCM
(Đối diện Khách sạn Công Đoàn Thanh Đa)
(Giờ mở cửa: 8h - 17h, từ thứ 2 - thứ 7, nghỉ chủ nhật và ngày lễ)

ĐT Hà Nội   : 024 7301 4747.

ĐT TP.HCM : 028 7300 4747.

HOTLINE    : 0933 862 589.


Email: loctancuong@gmail.com
Website: loctancuong.com 


(*) Xem thêm

Bình luận